Cây tre gai – Đặc điểm, kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác

Cây tre gai

Tre gai là loài tre phổ biến và quen thuộc nhất ở vùng Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ. Tre gai thường được gọi với các tên khác như: tre gai rừng, tre vườn, tre nghệ. Tên khoa học: Bambusa bambos, được (L.)Vos miêu tả khoa học đầu tiên năm 1895. Thuộc họ Lúa – Poaceae.

Đặc điểm hình thái tre gai

Thân

Tre gai mọc thành cụm, thân ngầm dạng củ, thân khí sinh cao 15-25m, đường kính phổ biến 5-14cm, ngọn cong. Lóng tre gai dài 25-35cm, vỏ màu xanh lục, khi non có phủ lông cứng màu nâu ép sát, khi già thì nhẵn, thành vách tre dày 2-3.5cm. Các đốt gần phần gốc đều có vòng rễ, phía trên và dưới mo có một vòng lông tơ màu trắng xám hay vàng nhạt. Cây chia cành sớm, các đốt dưới gốc thường có 1 cành, các cành nhỏ biến thành gai cứng và ngọn, các cành chính thì to và dài hơn.

Trung bình thân tre gai nặng 32kg. Cành của cây tre gai nặng 7kg. Lá 1,5kg. Một thân có tới 65 lóng và 30 cành. Ở độ ẩm 94,5% thân tre có tỷ trọng 1.000kg/m3, còn ở độ ẩm 15%, tỷ trọng là 500kg/m3. Thành phần hóa học của thân tre trưởng thành, khô bình thường: holocellulose 67,4%, pentosan 19%, lignin 20,4%, tro 4,8%, silic 3,4%,chất hòa tan trong nước nóng 4,3%, trong dung dịch cồn-benzen 3,1% và trong NaOH nồng độ 1% là 39,5%.

Trọng lượng thân cây tươi:

  • Phổ biến: đường kính 8-10cm, trọng lượng 20-30kg/cây.
  • Ở nơi đất tốt: đường kính 10-12cm; trọng lượng 30-45kg/cây.
  • Ở nơi đất xấu: đường kính 5-8cm; trọng lượng 10-15kg.
  • Cá biệt: đường kính 14-16cm; trọng lượng 60-70kg/cây.
Tre gai rừng
Tre gai rừng

Bẹ mo

Bẹ mo rụng muộn, hình thang, đầu hình cung rộng hay lõm xuống, 2 vai có mũi nhọn hơi nhô cao, tai mo hình bán nguyệt gần bằng nhau, lật ra ngoài, méo có lông mi cong, lưỡi mo cao 4-5mm, xẻ mạnh, mép có lông mi, mặt lưng phủ dày lông gai màu nâu tối, mặt trong nhẵn. Lá mo hình trứng thuôn, đầu cso mũi nhọn, thường lật ra ngoài, hai mặt đều có lông cứng. Lá 5-9, ở đầu cành nhỏ, hình dải, đầu có mũi nhọn, dài 10-20cm, rộng 15-25mm.

Hoa

Cụm hoa dài, mỗi đốt mang hai hay nhiều bông nhỏ màu vàng nhạt, khi hoa mới nở có màu tím nhạt. Mỗi bong nhỏ mang 4-12 hoa, trong đó có 2-5 hoa lưỡng tính, mày nhỏ có 2 gờ, có 3 mày cực nhỏ, nhị 6 rời, bầu hình trứng, vòi ngắn, đầu nhụy 3. Tre gai ra hoa từng khóm, chưa gặp hiện tượng tre gai bị “khuy”. Theo các cụ bô lão, chu kỳ khuy của tre gai khoảng 100 năm. Sau khi khuy cả khóm bị chết, chưa thấy hạt của loài tre này.

Phân bố

Ở Việt Nam Tre gai phân bố khắp mọi miền trên đất nước ta, từ Hà Giang đến mũi Cà Mau. Hầu như tre gai có mặt ở khắp mọi nơi, từ trên núi xuống tới đồng bằng, bờ sông, bờ suối,… Nhưng tập trung nhiều nhất là ở vùng Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ. Trên thế giới tre gai phân bổ chủ yếu ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaysia. Thái Lan, Philippin, Indonesia,…

>> Xem thêm: Cây tre ngà (tre vàng sọc): đặc điểm, ý nghĩa phong thủy và cách trồng

Đặc điểm sinh học của tre gai

Tre gai được trồng hoặc mọc tự nhiên ở khắp mọi nơi từ ven biển, đồng bằng cho tới trung du và miền núi. Đây là loài tre ưa ẩm và ưa sáng, có thể trồng quanh đồng ruộng, xóm làng, ven chân đê, dọc bờ sông, bờ suối,…. Nếu trồng ở nơi đất nghèo dinh dưỡng bụi tre bị khô cằn, thân cây nhỏ, vách dày. Cây chịu được ngập nước lâu khi gặp trời mua lũ. Tre gai không ưa đất mặn, nhiễm phèn. Độ PH thích hợp với tre gai là 5-6.5. Chọn nơi có đất tốt, tầng đất sâu và nhiều mùn, độ ẩm cao tre gai sẽ mọc thành bụi lớn tới 30-40 cây một bụi và cao tới 20m, đường kính 14-15cm.

Trồng sau 3 năm thân tre cao khoảng 3m và bắt đầu đẻ măng to, sau 5 năm cây cao trung bình 8-10m với bụi tre khoảng 10-40 thân và mỗi năm cho khoảng 30 măng. Nhưng chỉ khoảng 1/3-1/4 số măng phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết vì sâu bệnh, gió hoặc khô hạn.

Quá trình từ cây măng cho tới cây trưởng thành khoảng 5 tháng, mỗi ngày cây măng cao thêm 17cm. Cây măng sinh trưởng mạnh nhất vào cuối mùa mưa. Vào thời kỳ này, cây măng cao thêm khoảng 45cm/ngày. Nếu không được chăm sóc tốt và bị chặt nhiều lần, tre gai thường có hiện tượng nâng bụi. Khi đó thân ngầm phát triển ngoài không khí, bụi tre bị nâng cao và các cây sinh sau lại chui vào giữa bụi tre khiến bụi tre thoái hóa, không ra măng hàng năm nữa. Cây có tính chống chịu khỏe, rất ít sâu bệnh.

Măng tre gai

Trong các loại măng tre thì măng tre gai là loại đắng nhất nhì, nhờ vậy mà vị của nó cũng rất đặc biệt, được nhiều người ưa chuộng và đánh giá ngon nhất nhì trong các loại măng tre. Măng tre gai tuy đắng nhưng lại rất giòn, có vị ngọt hậu, vì vậy ai ăn một lần cũng sẽ nhớ mãi loại măng này.

Mùa măng từ tháng 5,6 đến tháng 10,11 tập trung vào 3 đợt:

  • Đợt 1: Vào tháng 6-7, cho măng có chất lượng tốt nhất. Bà con thường thu hoạch măng nhiều nhất vào thời gian này.
  • Đợt 2: Vào tháng 8,9, đợt măng này ít và nhỏ, cây tre mọc lên cũng thấp bé.
  • Đợt 3: Vào tháng 10-11, phần lớn do những cây măng đợt đầu sinh ra, khi đó chúng đã ổn định cả về chiều cao, về đường kính và cành lá đầy đủ. Măng đợt này thường nhỏ, mọc nông và hay bị sâu bệnh, nhưng lại thường cho thân khí sinh có vách dày và ít gai.

Cây có khả năng sinh năng từ 1-3 tuổi, cá biệt có cây 4 tuổi còn sinh măng. Khả năng sinh măng mạnh nhất vào năm thứ 2.

Khi măng nhú khỏi mặt đất là có xu hướng uốn vào giữa khóm nên bụi tre gai thường dày đặc, dễ có hiện tượng nâng búi nếu không được chăm sóc thường xuyên. Việc chặt tỉa tùy tiện cũng tạo điều kiện để các khóm tre sớm nâng búi. Khi đó cây trở nên cằn cỗi, tỷ lệ sinh măng thấp, kích thước thân khí sinh rất nhỏ.

Măng tre gai
Măng tre gai

>> Xem thêm: Kỹ thuật trồng và khai thác các loại tre lấy măng ở miền Đông Nam Bộ.

Ứng dụng của tre gai

– Tre gai được trồng thành bụi để làm hàng rào bảo vệ, chống gió bão, và đặc biệt được trồng nhiều ven các khu vực bờ sông, bờ suối để chống sói món sạt lở.

– Thân tre gai đặc và cứng nên được sử dụng để làm cọc gia cố móng cho công trình xây dựng nhà cửa, gia cố bờ kè, cầu cống quy mô vừa và nhỏ,…

– Thân tre còn được dùng làm các nông cụ phục vụ đời sống: cán cuốc, cán xẻng,… Làm nguyên liệu nan tre để đan lát các vật dụng phục vụ đời sống như: rổ, rá, nong, nia, mẹt,… đóng bàn ghế tre, tủ, kệ,…

– Măng tre có giá trị về kinh tế cao, dùng để làm các món ăn ngon.

– Nhiều bộ phận của cây tre được dùng làm thuốc: tinh tre, nước tre non, lá tre đều có thể dùng để làm thuốc được.

Ứng dụng của tre gai
Ứng dụng của tre gai

Kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây tre gai

Nhân giống

Tre gai có thể trồng bằng hom gốc, hom thân, hom cành và nuôi cấy mô. Ở Việt Nam, chủ yếu vẫn là trồng bằng gốc và một đoạn thân khí dài khoảng 40-60cm (với 3-5 lóng). Ở nhiều nước Đông Nam Á, tre gai được trồng bằng hom thân. Cắt đoạn thân dài 50cm, từ phần giữa của thân bánh tẻ (1-2 tuổi) có đường kính tương đối lớn. Đặt nằm ngang dưới mặt đất khoảng 10cm. Nếu xử lý bằng kích thích tố sinh trưởng loại Naphtalen Acetic Acid (NAA) nồng độ 200-600ppm rễ sẽ mau xuất hiện và cho rễ dài hơn so với trường hợp không xử lý.

Ở Philippin đã dùng hom cành (với cành có 3 đốt, đường kính dưới 1.5cm, lấy từ thân tre 1-2 tuổi. Hom cành được xử lý bằng dung dịch IAA nồng độ 100ppm, ươm trên luống cát, sau 20 ngày khi rễ xuất hiện sẽ đóng vào bầu, 2-3 tháng sau mang đi trồng.

Vùng trồng

Tre gai có thể trồng ở rất nhiều vùng khác nhau, nhưng không nên trồng ở độ cao trên 800m so với mực nước biển và có mùa đông quá lạnh. Vùng trồng tre thích hợp nhất là khu vực ven suối, quanh bản làng, trên đất phù sa hoặc chân sườn đồi có đất bồi tụ.

Kỹ thuật trồng

Trồng với cự ly cây 10m (khoảng 100-150 búi/ha). Thời vụ trồng tốt nhất vào đầu mùa xuân (tháng 2-3). Cũng có thể trồng vào vụ thu (tháng 8-10). Trồng xong phải ủ gốc.

Kinh nghiệm trồng tre gai ở vùng Lạng Sơn rất đơn giản: vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè, đào gốc cây tre bánh tẻ, cả củ và một đoạn thân tre khí sinh dài 1-1,5m đem trồng. Giống lấy về có thể trồng ngay, hoặc ngâm nước 1-2 đêm mới trồng. Để giữ độ ẩm cho giống cần đục thủng màng ngăn 2-3 lóng thân, đổ đầy nước rồi lấy rơm có trộn bùn ao đắp lên trên ống tre.

Trước khi trồng phải đào hố sâu 40-50cm, miệng rộng 30-40cm. Đặt giống xuống hố nghiêng một góc từ 40-60 độ, lấp đất mặt. Dùng chân dận chặt gốc. Sau đó dùng đất mùn lấp đầy hố và gốc cây trồng. Muốn cây chóng bén rễ cần trộn đất phù sa, mùn hoặc phân chuồng hoai với đất mặt trong hố. Trồng theo kinh nghiệm này, tỷ lệ sống gần 100%.

Cũng có nơi dùng giống chân kiềng, đào 3 thân ngầm và 3 thân khí sinh nối với nhau để làm giống. Dùng giống loại này bảo đảm sống 100%, nhưng rất mất công đào, vận chuyển và trồng; vì vậy nên chỉ áp dụng trong phạm vi gia đình để trồng vài búi tre.

Chăm sóc

Cần chăm sóc cây trong 2 năm đầu, nếu có nhiều cỏ phải làm cỏ. Giai đoạn vừa trồng, nếu thời tiết quá khô hạn, phải tưới. Nếu đất xấu phải bón phân NPK, tốt nhất là theo tỷ lệ: 20-30kg N, 10-15kg P, 10-15kg K và 20-30kg Silic, bón 2 lần: 1 tháng và 4 tháng sau khi trồng. Tỉa bớt các cành có gai ở gốc và chặt bỏ các thân già để bụi tre tăng trưởng tốt hơn.

Sâu bệnh

Tre gai thường ít sâu bệnh. Ở Việt Nam thường xuất hiện nạn châu chấu ăn lá tre và sâu cuốn màng làm hại các lá non. Cũng cần chú ý các loài thú đến ăn măng non. Thân tre khi thu hoạch chú ý các loại côn trùng cánh cứng, mối.

Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn

Tre gai là loài tre phổ biến và quen thuộc nhất ở vùng Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ. Nó được sử dụng từ rất lâu đời trong xây dựng nhà cửa và làm các đồ gia dụng. Thân tre gai làm cọc móng nhà. Măng của tre gai cũng thường được bán ở ngoài chợ từ thành thị đến nông thôn. Gần đây, măng tre ngâm ớt với quả mắc mật là mặt hàng đặc sản của 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng. Lá tre là một trong các vị thuốc xông khi cảm cúm và không khi nào thiếu trong gánh hàng thuốc của các bà hàng lá ngoài chợ. Một số năm gần đây, thân tre gai được dùng làm nguyên liệu giấy, chẻ đũa và làm tăm xỉa răng.

Đặc biệt tre gai là loài chịu ngập lâu và có bộ rễ khoẻ, rất phát triển; nên gần đây tre gai được trồng nhiều để chắn gió bão cho đồng ruộng và chống sụt lở cho các đê ngăn nước ngọt.

Tre gai còn có giá trị văn hoá. Hàng tre, bến nước, cây đa,… là những hình ảnh quen thuộc và đặc trưng nhất cho làng quê Việt Nam.

Tuy không phải là loài bị đe doạ, nhưng với các giá trị kinh tế, môi trường và văn hoá nêu trên, tre gai xứng đáng được bảo vệ và phát triển.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Khai thác thân tre

Sau khi trồng được 4 năm ở nơi đất tốt, bụi tre có thể bắt đầu cho khai thác. Tre gai thường được khai thác theo 2 cách phổ biến:

  • Cách 1: Chặt thường xuyên không theo định kỳ. Cách này phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng hoặc chặt bán với số lượng ít.
  • Cách 2: Chặt theo luân kỳ 4-5 năm hoặc 5-10 năm, khi búi tre lớn có trên 50 cây. Cách này gần như chặt trắng, chỉ chừa lại các thân non dưới 3 tuổi. Cần chặt thấp gốc sau đó đổ bùn để sau 5-10 năm có thể tiếp tục khai thác.
Khai thác tre gai
Khai thác tre gai

Lưu ý khi chặt tre:

Thường chặt tre vào mùa khô để hàm lượng nước thấp, đỡ mối mọt. Nếu dùng làm hàng thủ công cần khai thác cắt các cây tre 1 tuổi. Nếu dùng trong xây dựng, nên chặt các thân tre 3 tuổi. Thường chặt ở độ cao sát mặt đất. Để bảo đảm thu hoạch lâu dài, số thân chặt không vượt 60% số cây trưởng thành còn lại trong búi. Để thuận tiện cho thu hoạch có thể phạt hết các cành gai mọc thấp trước khi chặt các cây trong bụi.

Khai thác măng tre

Măng được thu vào mùa mưa, 7-15 ngày sau khi nhú khỏi mặt đất là có thể thu hoạch. Mỗi năm có thể thu 6-7 măng trong một bụi. Thường cuối tháng 5 đầu tháng 6 cây bắt đầu ra măng đầu mùa, mùa măng kéo dài đến tháng 10-11.

Sơ chế, bảo quản

Măng thu về có thể dùng ăn tươi hay đem ra chợ bán cả cái hoặc bóc vỏ, rửacận thận, thái thành lát dày 2-3cm, đem ngâm nước lã 2-3 ngày, đến phiên chợ mang ra bán ở trạng thái tươi.

Thân tre sau khi chặt xuống trước tiên phải hong khô. Thường để khô ngoài không khí, dưới bóng râm, khoảng 2-4 tháng, sấy khô 1-2 tuần tuỳ theo yêu cầu tỉ lệ độ ẩm và điều kiện sấy khô.

Độ bền tự nhiên của các thân không được xử lý thường kém, chỉ sử dụng được ngoài trời khoảng 1-3 năm ở ngoài trời hoặc 2-5 năm ở trong phòng và 6 tháng trong nước biển. Muốn kéo dài thời gian sử dụng cần phải xử lý các thân tre sau khi chặt. Theo kinh nghiệm cổ truyền ở các nước ở vùng Đông Nam Á, các thân tre cắt xuống được ngâm khoảng 2 tháng trong dòng nước chảy hoặc nước lợ trước khi phơi khô, hun khói hoặc hơ nóng.

Các thân tre dùng đan lát, có thể phơi khô trong bóng râm, khoảng 3-5 ngày, chặt bỏ các đốt, rồi chẻ các lóng thành các thanh tre. Những lóng ởđoạn giữa thân được ưa chuộng hơn cả. Loại bỏ phần vỏ và ruột của các thanh tre. Phần còn lại được chẻ thành 4-10 lớp, các lớp ngoài cùng, gần vỏ có chất lượng tốt nhất.

Hy vọng qua bài viết về cây tre gai các bạn đã có thêm những thông tin hữu ích tham khảo về loài cây này. Một trong những giống cây cần được bảo vệ và phát triển rộng rãi hơn.

5/5 - (1 đánh giá)